Hiển thị các bài đăng có nhãn kiến thức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kiến thức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 23 tháng 8, 2012

Đau lưng - Bs Nguyễn Ý Đức


Đau lưng
Bs Nguyễn Ý Đức


Sau nhức đầu thì đau lưng - Lower Back Pain là nguyên nhân thứ nhì gây đau cho mọi người, đặc biệt là với người cao tuổi.. Chăm sóc đau lưng cũng là nguồn phí tổn khá cao, có lẽ chỉ sau các bệnh về tim. 
Với nhiều nhà chuyên môn y tế thì đau lưng hầu như là một căn bệnh của đời sống gây ra do thói quen bất thường của người bệnh. Vì họ đứng, họ đi, họ nâng nhấc hoặc lôi kéo sự vật nặng không đúng cách, đưa tới nguy cơ tổn thương cho các thành phần của lưng. Khi đã bị một lần thì đau lưng cũng có nguy cơ tái phát.
Các nhà chuyên môn cũng ước lượng là 80% các trường hợp đau lưng có thể phòng ngừa được nếu ta để ý một chút hoặc nếu ta có vài kiến thức căn bản về cột sống.


Lưng là phần dưới của thân mình gồm có 5 đốt xương sống, các gân, dây chằng, cơ bắp để giữ lưng ngay thẳng. Các đốt xương này chịu đựng sức nặng của phần trên của thân mình, cho nên chúng rất dễ tổn thương. 
Từ các đốt sống này xuất phát dây thần kinh não tủy. Giữa các đốt sống là đĩa sụn liên hợp giúp cột sống cử động trơn tru. 
Đau lưng thường thường gây ra do ba nguyên nhân chính:  
- Căng cơ bắp-dây chằng trong các hoàn cảnh như mập phì, có thai, người cao tuổi ít vận động, nâng mang vật nặng mà lại dùng sức mạnh của lưng, tư thế không ngay thẳng, nhiều xúc động mạnh…
- Thoái hóa đĩa đệm.      
- Viêm mặt khớp xương.



Ngoài ra, bị chấn thương, u bướu, viêm nhiễm cột sống, nằm ngủ trong vị thế bất thường hoặc nệm quá mềm cũng là nguy cơ gây đau lưng. Nhiều trường hợp phụ nữ với nhũ hoa quá khổ cũng gây ra đau lưng vì lưng chịu một sức nặng ngoài khả năng.  
Người cao tuổi thường hay bị đau lưng vì sự thoái hóa cột sống, cơ bắp dây chằng lỏng lẻo, đốt cột sống dễ bị nghiêng vẹo, đè vào dây thần kinh não tủy, gây ra đau. Với các bác, chỉ khom khom di chuyển một chậu cây cảnh hoặc cúi xuống bế đứa cháu nội ngoại cũng dễ dàng ôm lưng nhăn nhó.   
Theo các nhà chuyên môn, 80% dân chúng đều bị đau lưng một vài lần nào đó trong cuộc đời. Đau lưng là lý do hàng đầu khiến cho người dưới 45 tuổi phải nghỉ việc.
Đau lưng có thể là cấp tính hoặc kinh niên.   
Cấp tính thường kéo dài khoảng 4 tuần lễ còn kinh niên thì liên tục đau, có khi cả dăm ba tháng.      
Những cơn đau và cứng khớp thường xảy ra vào buổi sáng sớm và xế chiều. Ban đêm cơn đau khiến người bệnh khó ngủ.
Đau cũng thường thấy ở dưới chân khi đi lại hoặc đứng lâu.



Phòng tránh
           
Phòng ngừa có mục đích tránh các căng giãn không cần thiết cho cơ bắp và cũng để tăng cường sức mạnh cho các bắp thịt hỗ trợ cột sống.  
1- Khi mang vật nặng, không nên khom lưng xuống để nhấc vật đó lên, mà ngồi xuống, hai tay ôm cầm vật đó rồi từ từ đứng lên qua sức mạnh của đầu gối, như vậy tránh được sự tổn thương cho lưng.
2- Khi vật nặng nằm ở trên bàn, ta có thể ôm vào bụng hay quay lưng ôm đồ vật vào lưng để mang đi.
3- Đừng đi giầy gót quá cao, làm xương sống xiêu vẹo, yếu.
4- Giữ dáng điệu ngay ngắn.  
5- Khi đứng, bụng thót phẳng , hướng xương chậu về phía sau sẽ giúp phần dưới của cột sống vững hơn. Nếu cần đứng lâu thì đặt một chân lên vật cao khoảng hai tấc để ngả xương chậu về phía sau.
6- Ngồi lâu đều gây nhiều khó chịu cho lưng. Vì thế lâu lâu nên đứng dậy, đi qua đi lại, thư giãn xương lưng. Tránh ngồi trên nệm ghế quá mềm.    
7- Nệm xe đều gây đau lưng khi ngồi quá lâu. Nên lót lưng với một cái gối nhỏ và để tay trên vật tựa; kéo ghế gần về phía trước để đầu gối cao bằng hông.



8- Nên ngủ trên nệm cứng; nằm nghiêng, đầu gối co thước thợ hoặc khi nằm ngửa thì lót gối dưới khuỷu chân. Gối cao vừa phải để đầu và mình ngang bằng;    
9- Khi cần coi tivi hoặc đọc sách lâu, nên nằm để tránh căng cho xương sống.       
10- Quần áo không nên quá bó sát vào người để cơ bắp, xương khớp không bị gò bó…   
11- Tập thể dục với các cử động làm thư giãn khớp xương và bắp thịt, tăng cường sức mạnh cho bắp thịt, dây chằng ở lưng.
12- Buổi sáng ngủ dậy, trước khi bước ra khỏi giường nên tập các cử động vẹo người qua lại để thư giãn lưng. Lý do là sau bẩy giờ nằm ngủ, xương khớp, bắp thịt cứng lại, nếu đứng dậy ngay có thể té ngã, gây tổn thương cho lưng và các phần khác của cơ thể.
13- Không hút thuốc lá vì nicotine làm giảm máu lưu thông tới lưng khiến cơ khớp yếu.
14- Giảm cân nếu quá mập, vì mập phì làm mô mềm ở lưng căng cương. Hai phần ba người bị đau lưng kinh niên đều bị béo phì.


Vài cử động để thư dãn cột sống      
1- Ðứng thẳng, hai bàn chân xa ngang thân người, úp hai bàn tay lên ngang lưng. Ðầu gối ngay thẳng, ưỡn lưng về phía sau càng xa càng tốt. Giữ nguyên vị trí trong vài ba giây rồi trở lại dáng điệu bình thường. Làm cùng động tác năm lần. 
2- Ðứng ngay thẳng, tựa hai tay lên phía sau của thành ghế. Ðầu gối thẳng, dơ một chân về phía sau càng cao càng tốt. Hạ chân xuống từ từ và làm cùng động tác với chân kia. Làm năm động tác liên tiếp cho mỗi chân. 
3- Nằm sấp, hai chân duỗi thẳng, khuỷu tay gấp, hai bàn tay úp xuống sàn. Dùng hai tay đẩy thân mình lên càng cao càng tốt, mông và chân vẫn phẳng dưới sàn. Nhắc lại cùng động tác 10 lần.




4- Nằm ngửa, đầu gối gập lại, hai bàn chân để dưới đất. Từ từ nhấc đầu và vai khỏi sàn, hướng hai bàn tay về phía đầu gối, giữ vị trí trong mười nhip đếm rồi nằm thẳng mình trở lại. Nhắc lại cùng cử đông năm lần. 
5- Nằm sấp, chân tay đụng mặt bằng. Nâng cao một chân, đếm từ 1 đến 10 rồi hạ chân xuống. Nhắc lại cùng cử động với chân kia. Làm 5 lần mỗi chân.


BS Nguyển Ý Đức

Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2012

THẮT LƯNG DÀI RA, CUỘC ĐỜI NGẮN LẠI


THẮT LƯNG DÀI RA, CUỘC ĐỜI NGẮN LẠI
PGS.TS. Nguyễn Hữu Đức
 
Hình ảnh đức Phật Di Lặc đã in đậm trong tâm tưởng nhiều người trong chúng ta. Đó là hình ảnh một vị sư to béo đẫy đà, mặc y áo không cúc, thường ngồi chễm chệ phanh ngực, hoặc đứng hiên ngang khoe cái bụng to tròn, mặt mày rạng rỡ và đặc biệt là nụ cười luôn nở trên miệng, và vây quanh là đám trẻ vui đùa thỏa thích. Hình ảnh này khiến cho ai nhìn thấy cũng đều cảm thấy hoan hỷ, vui thích, có cảm tưởng như lúc nào cũng nghe được tiếng cười ha hả vang động của ngài. Đó là nụ cười của Từ Bi, của Hỷ Xả, vô cùng cao quý, có thể làm tiêu tan hết mọi thù hận hờn ghét, làm tan biến mọi khổ đau phiền não trong lòng dạ con người. Đúng là: "Hàm nhan vi tiếu, tiếu thế gian nan tiếu chi nhân" (dịch nghĩa: Miệng nở nụ cười mỉm với những điều mà người đời khó có thể mỉm cười được).  Tuy nhiên, với thân hình đẫy đà, bụng to quá cỡ vẽ trong tranh về ngài thì ta nên xem đó là hình tượng ví von về tấm lòng vị tha thương người vĩ đại. Như câu thơ đã ví von: "Đại đỗ năng dung, dung thế gian nan dung chi sự (dịch nghĩa: Cái bụng lớn có thể dung chứa những việc mà người đời không dung chứa được). Chứ không nên xem đó là đặc trưng vốn có của "sức khỏe" mà tìm cách ăn uống sao cho giống như vậy.
Đối với khá nhiều người, "có sức khỏe" đồng nghĩa với "có thân hình phương phi, tròn trịa", đặc biệt đối với nam giới thường tự hào trời cho "tốt bụng", thực chất là béo bụng, tức bụng to hơn người thường là tốt. Thật ra mập mạp không hẳn là có sức khỏe tốt và béo bụng, tai hại thay là dấu hiệu có thể  "trông mặt mà bắt hình dong" giúp nghi ngờ đương sự đang bị một quá trình bệnh lý gọi là "hội chứng chuyển hóa" (HCCH). Trong những năm gần đây, HCCH đã trở nên quen thuộc và là mối quan tâm hàng đầu của các thầy thuốc vì HCCH sẽ dẫn đến bệnh đái tháo đường  (ĐTĐ) týp 2 và những bệnh do vữa xơ động mạch đóng vai trò chính (như bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não). HCCH còn được gọi một số tên khác như hội chứng kháng insulin, hội chứng Reaven, hội chứng X, đặc biệt có tên gọi nói lên sự nguy hại phải đề cao cảnh giác là "tứ chứng chết người". Gọi là tứ chứng chết người là vì có 4 chứng nếu không điều chỉnh cải thiện sẽ đưa đến sức khỏe bị tổn hại nghiệm trọng, có thể tử vong như chơi, đó là "béo phì thể bụng tức béo bụng, huyết áp cao, đường huyết cao, rối loạn mỡ trong máu". Trong tứ chứng thì béo bụng  có thể nhìn bề ngoài là biết, còn 3 chứng còn lại phải có thiết bị đo (như đo huyết áp, đo đường huyết) và xét nghiệm máu. Đặc biệt, nhiều nhà y học nhấn mạnh vai trò của béo bụng xem đó đóng vai trò chính, là trung tâm của 4 biểu hiện của HCCH. Người ta đã thống kê, trung bình có 20% số người ở độ tuổi trung niên bị HCCH và tỷ lệ này có xu hướng ngày càng tăng.


Làm thế nào biết được bị HCCH?
Dựa vào bảng tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH dành cho người châu Á, người được xem là bị HCCH nếu mắc 3 hoặc nhiều hơn trong 5 tiêu chuẩn sau:
Đo vòng eo:  được xem là béo bụng khi nam có vòng eo lớn hơn 90 cm, nữ lớn hơn 80 cm.
Đo huyết áp:  lớn hơn hay bằng (≥)130/85 mmHg.
Đo đường huyết glucose lúc đói: ≥ 6,1mmol/l (≥110 mg/dl).
Đo mỡ trong máu: Có 2 tiêu chuẩn là:
triglycerid ≥ 1,7mmol/l (≥ 150 mg/dl) và
HDL-cholesterol nhỏ hơn (<) 1mmol/l ( < 40 mg/dl) ở nam, <1,3 mmol/l) (<50 mg/dl) ở nữ.
Lưu ý có một số tiêu chuẩn ở nam khác với nữ.
Người có huyết áp 130/85 mmHg, đường huyết lúc đói bằng 6,1 mmol/l, triglycerid bằng 1,7 mmol/l là người chưa bị bệnh cao huyết áp, chưa bị đái tháo đường (ĐTĐ), chưa bị tăng mỡ trong máu thật sự nhưng có thể đã bị HCCH. Như trên đã nói, béo bụng là dễ " bắt hình dong" nhất, cho nên khi đo vòng bụng thấy vòng eo có vấn đề, hãy đi đo các tiêu chuẩn còn lại để xác định là có bị HCCH hay không, hầu khống chế bệnh tật.
HCCH sẽ dẫn đến hậu quả gì?
HCCH nếu không kiểm soát hay trị liệu sẽ dẫn đến 2 bệnh gây ảnh hưởng rất nặng nề là bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch và bệnh ĐTĐ týp 2 . Người bị HCCH có nguy cơ chết vì bệnh tim mạch vành cao gấp 3-4 lần so với người không bị. Người phạm phải 4 trong 5 tiêu chuẩn của HCCH có nguy cơ diễn biến thành ĐTĐ týp 2 gấp 24 lần so với người không phạm.
Một điều rất may mắn là HCCH có thể được khống chế bằng cách thay đổi lối sống, điều chỉnh chế độ ăn uống, tăng cường hoạt động thể lực và có khi phải dùng thuốc. Trong đó, việc điều chỉnh cân nặng về mức hợp lý đóng vai trò then chốt. Nên ăn uống điều độ, vừa đủ, tránh ăn no, tránh các chất béo, tăng cường ăn cá thay vì ăn nhiều thịt, ăn nhiều rau xanh, trái cây (rõ ràng để phòng chống HCCH, ăn chay đúng cách là tốt nhất). Ăn vừa đủ chất bột, không dùng đường tinh luyện, hạn chế tối đa ăn bánh kẹo ngọt, hạn chế ăn các loại quả có độ đường cao.
Người bị HCCH cần tránh cuộc sống thụ động bằng cách tập luyện rèn luyện thể lực tốt nhằm giải quyết vấn đề béo bụng do thừa do thừa cân, béo phì. Nếu giảm được 1cm vòng eo, bạn đã giảm được 7% nguy cơ bị bệnh ĐTĐ týp 2. Người ta ghi nhận chế độ vận động rèn luyện thể lực có giúp cải thiện tình trạng kháng insulin (insulin nhạy cảm tức được sử dụng tốt hơn sẽ có tác dụng kiểm soát đường huyết tốt hơn) và cải thiện tình trạng rối loạn mỡ trong máu (thể dục làm tăng HDL-cholesterol là cholesterol tốt).
Bị HCCH có phải dùng thuốc không?
Bạn cần phải đi khám bác sĩ để được cần dùng thuốc để điều trị HCCH hay không
Người bị HCCH nếu bị béo phì quá đáng có khi phải dùng thuốc giảm cân (nếu BMI lớn hơn 30kg/m2 trước đây phải dùng một trong hai thuốc sibutramin và orlistat, orlistat thường được chọn do sibutramin có thể làm tăng huyết áp, và nay thì sibutramin đã bị cấm).
Tùy theo tình trạng của người bị HCCH, bác sĩ sẽ cân nhắc  việc lựa chọn  thuốc thích hợp. Để hạ huyết áp, bác sĩ thường chọn một trong những thuốc thuộc nhóm ức chế men chuyển, đối kháng thụ thể angiotensin II hoặc chẹn kênh calci vì các thuốc này ít gây tệ hơn tình trạng kháng insulin gây ĐTĐ. Để trị rối loạn mỡ trong máu, bác sĩ thường chọn hoặc thuốc nhóm statin hoặc fibrat hoặc niacin. Đối với tình trạng đường huyết hơi cao đến mức giới hạn các nhà điều trị tán dương việc thay đổi lối sống nhằm cải thiện chứ không ủng hộ dùng thuốc hạ đường huyết cho người bị HCCH nhưng chưa thật sự bị ĐTĐ týp 2.
Nên chăng phải cảnh giác cao độ đối với HCCH?
Nếu đã thấm nhuần phương châm "phòng bệnh hơn chữa bệnh", những ai có nguy cơ, đặc biệt đối với người đã ở ngưỡng "đón gió heo may về" cần phải cảnh giác cao độ HCCH. Ta nên đi khám, làm xét  nghiệm để biết mình đã phạm 3 hoặc hơn trong 5 tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH kể ở trên hay chưa. Nếu phạm, ta cần tham khảo ý kiến bác sĩ để điều trị HCCH kịp thời để không hối tiếc bị mắc hai bệnh luôn gây tổn thất nghiêm trọng là bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch vành và ĐTĐ týp 2. Nên lưu ý, nếp sống lành mạnh với chế độ dinh dưỡng hợp lý, rèn luyên vận động thích hợp để bụng đừng béo sẽ hóa giải, triệt tiêu HCCH, giúp bảo vệ và tăng cường sức khỏe.



Chủ Nhật, 27 tháng 5, 2012

SUY TIM


SUY TIM
1.Y HỌC HIỆN ĐẠI
1.1. Đại cương:
Suy tim là một trạng thái bệnh lý làm cho tim mất khả năng bảo đảm cung lượng tim theo nhu cầu oxy của cơ thể, lúc đầu khi gắng sức và sau đó cả lúc nghỉ ngơi, tổn thương trung tâm trong suy tim là suy yếu sự co bóp cơ tim.
Suy tim là diễn biến cuối cùng của các bệnh tim mạch và các bệnh có liên quan ảnh hưởng nhiều đến tim. Hiện nay tỷ lệ tử vong do suy tim vẫn ngày càng tăng trong khi các tai biến về mạch máu não và mạch vành tim gây tử vong giảm. Gần đây có những hiểu biết mới về suy tim, nhưng việc điều trị thực sự vẫn còn nhiều khó khăn.
Các nghiên cứu cho biết có khoảng 0,5 - 2 % dân số bị suy tim, ở người già có thể đến 10%.
Ở Việt nam: Viện Tim mạch năm 1991 có 765 ca suy tim trong tổng số 1291 ca nhập viện
1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
1.2.2. Nguyên nhân:
1.2.1.1. Suy tim phải:
*) Loại gây cản trở đường tống máu của thất phải:
+ Hẹp van 2 lá
+ Các bệnh phổi mãn tính: hen phế quản, giãn phế quản, xở phổi, khí phế thũng.
+ Các bệnh có hẹp động mạch phổi
+ Thông liên nhĩ
+ U màng nhĩ trái
*) Loại gây cản trở máu về tim phải:
+ Tràn dịch màng ngoài tim
+ Viêm màng ngoài tim dầy dính, co thắt
+ Các bệnh có dầy thất phải bẩm sinh bệnh Fallot, EBCtein...
+ Huyết tắc động mạch phổi
1.2.1.2. Suy tim trái:
Bao gồm những bệnh gây ứ đọng máu tại thất trái cản trở đường tống máu thất trái hoặc gây tổn thương cơ thất trái.
+ Hở van 2 lá
+ Huyết áp cao có thể dẫn tới suy tim.
+ Nhồi máu cơ tim gây tổn thương cơ tim và gây suy tim trái cấp tính.
+ Những bệnh tim bẩm sinh: hẹp co động mạch chủ, còn ống động mạch thông liền thất.
+ Bệnh có tổn thương cơ tim trái do viêm, viêm cơ tim do thấp, nhiễm trùng nhiễm độc nặng, thiểu dưỡng cơ tim, thiểu năng vành.
+ Do rối loạn chuyển hóa trong bệnh collagen
+ Do gắng sức quá mức có thể dẫn tới suy tim trái cấp tính.
+ Bệnh cơ ti nguyên phát, ứ trệ.
1.2.1.3. Suy tim toàn bộ:
Ngoài nguyên nhân gây suy tim phải và trái còn một số nguyên nhân có thể dẫn tới suy tim toàn bộ:
+ Viêm tim toàn bộ
+ Thoái hóa cơ tim
+ Thiếu máu nặng
+ Thiếu vitamin B1 (Beri - Beri)
+ Bệnh Basedow
1.2.2. Cơ chế bệnh sinh:
1.2.2.1. Cơ chế suy tim:
Suy tim xảy ra khi có sức co bóp cơ tim giảm hay thể tích nhát bóp tim giảm.Tốc độ co bóp phụ thuộc vào mức năng lượng được giải phóng nhờ hoạt tính ATPase của cơ tim, lực tối đa đạt được trong thì co cơ, đồng thể tích phụ thuộc vào các điểm tiếp xúc actin - Myosin theo đơn vị cơ tim và số lượng Ion calci gắn với hệ Tsoponin - Tsopomyosin. Làm thay đổi cấu trúc của Tsoponin và tạo điều kiện cho actin tiếp xúc với Myosin để gây co cơ. Khi cơ chế sinh co cơ bị suy yếu thì dẫn tới co bóp cơ tim giảm và suy tim xảy ra.
1.2.2.2. Cơ chế bù trừ:
*) Tại tim: Sau khi suy tim xảy ra tại tim huy động 3 cơ chế bù trừ là vì dự trữ tim còn, các sợi cơ tim kéo dài ra sẽ làm tăng sức co bóp của cơ tim, dẫn đến giãn thất, dày thất để tăng hiệu suất tim, tăng huy động hệ thần kinh giao cảm tăng tiết Catecolamin để sức co bóp cơ tim và làm tăng tần số tim. Lâu ngày các thụ cảm Beeta trong các cơ tim và đáp ứng các thần kinh giao cảm sẽ giảm dần.
*) Ngoài tim: Được huy động 3 hệ thống:
+ Hệ thần kinh giao cảm: Cường giao cảm sẽ gây co mạch ngoại vi để ưu tiên máu cho não, tim...
+ Hệ Renin - Angiotensin - Aldosteron: Làm co mạch rất mạnh và tăng tái hấp thu nước và Na+
+ Hệ Vasophessin: góp phần làm co mạch ngoại vi của Angiotensin II, tăng tái hấp thu nước ở thận.
Cả 3 hệ thống bù trừ trên đều cố gắng duy trì cung lượng tim và huyết áp, nhưng mặt bất lợi là làm ứ trệ nước và Na+, tăng sức ngoại vi, tăng công, tăng mức tiêu thụ oxy của cơ tim, giảm cung lượng vành, các bất lợi đó có thể làm nặng thêm suy tim, tất yêu xảy ra suy tim mất bù.
1.3. Triệu chứng
1.3.1. Suy tim trái:
*) Lâm sàng: Biểu hiện chủ yếu ở phổi
- Khó thở khi gắng sức: xảy ra ở giai đoạn đầu.
- Khó thở lúc nghỉ ngơi: xảy ra ở giai đoạn cuối cua suy tim. Bệnh nhân thường phải gối đầu cao, nằm tư thế Fowler, có khi phải ngồi để ngủ hoặc thức trắng đêm.
- Cơn hen tim: Thường xảy ra ban đêm, bệnh nhân nghẹt thở, thở khò khè, nếu tĩnh mạch vỡ thì bệnh nhân khạc ra máu.
- Phù phổi cấp tính: Bệnh nhân có cơn khó thở, nhanh, ngắn nhịp phát, nghe ra ral ẩm, ral gáy, cả 2 trường phổi dâng lên như thủy triều, từ đáy lên tận 2 đỉnh phổi. Bệnh nhân lo âu, bồn chồn, thở gấp, tím tái, vã mồ hôi, lạnh toàn thân, sùi đờm dãi đầy mồm với bọt màu hồng.
- Bệnh nhân thấy mệt mỏi, giảm trí nhớ, đôi khi lú lẫn, vật vã.
- Dấu hiệu thực thể: huyết áp thấp ( chủ yếu là huyết áp tâm thu) đôi khi huyết áp tâm trương tăng. Nhịp nhanh xoang diện đục tim to ra, mỏm tim sa xuống sang trái, tiếng bệnh lý bên tim trái, tiếng ngựa phi, ngoại tâm thu phổi đục ở đáy, có thể tràn dịch màng phổi, rên rít, rên ngày, có khi ran ẩm.
*) Cận lâm sàng:
- X quang: thất, nhĩ trái to, rốn phổi đậm, có đường Kerlay B.
- Điện tim: dày thất trái, nhĩ trái, thiếu máu cơ tim loạn nhịp, rối loạn dẫn truyền.
- Siêu âm tim: dày hoặc giãn tim trái, giảm co bóp thất trái
1.3.2. Suy tim phải:
*) Lâm sàng:
Triệu chứng chính là gan to, xung huyết căng tĩnh mạch hệ thống.
- Dấu hiệu chức năng: đau tức năng vùng gan, dấu hiệu "gan đàn xếp", rối loạn tiêu hóa, chướng bụng phù mềm trắng ở chi dưới cân đối, khó thở nặng dần. Giai đoạn cuối khó thở thường xuyên.
*) Cận lâm sàng:
- X quang: thất và nhĩ phải to, trung thất to, phổi bình thường
- Siêu âm tim: dày và giãn thất, nhĩ phải
- Điện tim: dấu hiệu dày thất và nhĩ phải
1.3.3. Suy tim toàn bộ
- Khó thở thường xuyên phải ngồi để thở.
- Tím môi, mặt
- Gan to nhiều, tĩnh mạch cổ nổi to và đập
- Phù to 2 chân, có phù toàn thân và tràn dịch thanh mạc màng phổi, màng bụng.
- Mạch nhanh yếu, huyết áp tâm thu giảm, tâm trương tăng (hình ảnh "huyết áp cặp díp")
- Áp lực tĩnh mạch tăng cao, tốc độ tuần hoàn chậm.
- X quang: tim to toàn bộ
- Điện tim: dày 2 thất, dầy nhĩ, có thể gặp loạn nhịp...
1.3.4. Phân độ suy tim:
Thường áp dụng cách phân loại dựa vào trạng thái chức năng do Hội tim mạch New York đề ra:
*) Độ I:
- Chỉ khó thở khi gắng sức nhiều.
- Tim chưa to trên lâm sàng và X quang.
- Điện tim: bình thường hoặc tăng gánh thất phải hoặc trái mức độ nhẹ.
- Điều trị hồi phục dễ dàng bằng tránh gắng sức, hạn chế ăn muối.
*) Độ II: Suy tim toàn bộ không toàn bộ:
- Khó thở khi gắng sức nhẹ;
- Tim đã to.
- Có ứ trệ ở một trong hai vòng tuần hoàn: tiểu tuần hoàn và ngoại vi.
- Điện tim: dầy 1 thất, lệch trục rõ.
*) Độ III: Suy tim toàn bộ có khả năng hồi phục:
- Khó thở thường xuyên.
- Mạch nhanh thường xuyên
- X quang: tim to toàn bộ
- Có ứ trệ ở cả 2 vòng tuần hoàn.
- Điện tim: dầy 2 thất có thể có loạn nhịp
- Điều trị: tích cực đúng qui cách suy tim còn khả năng hồi phục
*) Độ IV: Suy tim khó hồi phục, suy tim giai đoạn cuối:
- Khó thở cả khi nằm phải ngồi để thở.
- Phù to toàn thân, dịch màng phổi, dịch màng bụng.
- Gan to cứng, tim to, buồng thất giãn, hở van 2 lá, 3 lá chức năng.
1.4. Chẩn đoán:
1.4.1. Chẩn đoán suy tim:
- Với suy tim phải: ở giai đoạn tiềm tàng dựa vào tĩnh mạch cổ nổi, đau tức vùng gan, vùng tim, khó thở khi gắng sức, nhịp tim nhanh; Điện tim: tăng gánh thất phải, thông tim, đo áp lực buồng tim cho phép phát hiện sớm.
- Với suy tim trái: khó thở khi gắng sức, có cơn khó thở về đêm, nhịp tim nhanh, ho, ho ra máu; Điện tim: trục chuyển trái, tăng gánh thất trái, thông tim giúp chẩn đoán xác định suy tim trái giai đoạn tiềm tàng.
1.4.2. Chẩn đoán phân biệt:
- Tắc mạch máu phổi
- Phù ngoại vi do suy tim dị ứng, phù thận
- Gan to do xơ gan
1.5. Điều trị
- Vệ sinh đời sống, chế độ ăn uống.
- Có chế độ nghỉ ngơi, lao động tùy theo mức độ suy tim
- Ăn nhạt tùy theo mức độ suy tim, thường lượng muối < 300mg/ngày; hạn chế uống nước (nên dưới 1,5l/ngày), ăn thực đơn nhẹ nhàng.
- Thuốc: Digitoxin (Digitalis puspurae) dạng dung dịch viên 0,1 mg dùng uống, tiêm. Đợt tấn công tổng liều 0,8 - 2 mg/4-6 ngày. Đợt củng cố 1 tuần cho 1 - 2 ngày; liều 1 - 2 viên/ngày, cần bổ sung K+ mới dùng thuốc. Liều tác dụng và liều độc từng cơ thể rất khác nhau , ngừng thuốc ngay khi nhịp tim <70 lần/phút.
- Digitalis - Lanata (Digoxin) viên 0,25, ống 0,5mg
Đợt tấn công: tổng liều 2 - 4 mg (4 - 6 ngày, 2 ngày đầu có thể dùng 0,5 - 1 mg/ngày chia nhiều lần)
*) Chú ý: Suy tim nhịp chậm < 70 lần/phút có bloc ngoại tâm thu dầy, nhiều dạng nhiểu ổ không dùng, ngộ độc phải dừng ngay.
- Thuốc lợi tiểu:
+ Hypothiazit viên: 25mg, 100mg liều 100mg/ngày; 1 đợt 3 - 4 ngày, cần bổ sung Kali
+ Furosemid (lasix, lasilix) viên 40 mg, ống 20 mg, liều 2 - 4 ngày; Đợt 2 -3 ngày.
Có thể dùng thêm các loại kháng sinh phòng ngừa bội nhiễm, thuốc an thần, Seduxen..., điều trị tích cực nguyên nhân suy tim.
2. Y HỌC CỔ TRUYỀN
2.1. Bệnh danh: Tâm quí, Chính xung, Khái xuyễn, Hư lao, Thủy thũng...
2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh:
Nguyên nhân căn bản là tâm và huyết mạch bất túc, nguyên nhân ngoại tà, ăn uống, phòng dục không điều độ là yếu tố dẫn phát bệnh.
Cơ thể bệnh sinh tương đối phức tạp có thể trình bày như sau:
- Tâm huyết suy tổn, tâm khí không đầy đủ, khí âm đều hư, thủy ẩm huyết ứ ngưng tại tâm, tâm bào lạc, xuất hiện chứng tim đập mạnh loạn nhịp
- Phế khí hư không túc giáng, thận hư không nạp được khí, khí nghịch lên trên xuất hiện chứng huyễn thở
- Thủy thũng: có liên quan đến phế, tỳ, thận và khí hóa của tam tiêu. Tâm tỳ dương hư khí không chủ thủy, thủy thấp của hạ tiêu tràn lên, xuất hiện chân phù thũng, tim hồi hộp, ăn ít, bụng chướng đầy. Thận dương hư thì thủy khí thịnh phù thũng từ eo lưng trở xuống càng nặng. Thận khí hư cộng thêm bàng quang kém khí hóa nên lượng nước tiểu ít gây phù thũng.
- Tâm khí không đủ nên khí huyết không thông dẫn tới huyết ứ, xuất hiện ngực sườn đau tức, môi tím, tay nhợt tím.
- Về phân đoạn: giai đoạn đầu là tâm phế khí hư, giai đoạn cuối là tỳ thận dương hư.
- Về tiến triển bệnh: suy tim dương hư là gốc, bệnh phát triển đến âm hư, cuối cùng cả âm dương đều hư. Vì vậy, lấy ích khí ôn dương làm chủ, kiêm thêm hoạt huyết hóa ứ, hóa đàm, lợi thủy là phép trị chủ yếu.
2.3. Biện chứng luận trị:
2.3.1. Thể Khí huyết đều hư:
*) Chứng trạng: Tim hồi hộp, khó thở, mệt mỏi, đầu váng, mắt hoa, hụt hơi, ngại nói, môi nhợt, sắc mặt tối, chất lưỡi nhợt bệu, rêu mỏng, mạch tế vô lực.
*) Pháp điều trị: Bổ khí huyết, dưỡng tâm an thần
*) Bài thuốc: Quy tỳ thang gia giảm
- Đẳng sâm
15g
- Hoàng kỳ
20g
- Chích cam thảo
05g
- Phục thần
12g
- Toan táo nhân
12g
- Mộc hương
06g
- Viễn chí
10g
- Bạch truật
15g
- Đương quy
20g
- Long nhãn
15g
*) Ý nghĩa bài thuốc:
Đẳng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Chích cam thảo kiện tỳ ích khí; Đương qui dưỡng can sinh tâm huyết; Táo nhân, Phục thần, Long nhãn, dưỡng tâm an thần; Viễn chí thông tâm thận, Mộc hương lý khí tỉnh tỳ. Bài thuốc có tác dụng bổ ích tâm tỳ, ích khí dưỡng huyết.
*) Châm cứu: Tâm du, Tỳ du, Phế du, Thận du, Túc tam lý, Nội quan.
2.3.2. Thể Tâm thận âm hư:
*) Chứng trạng: Khó thở, hồi hộp, khó ngủ, miệng khát họng khô, hai gò má đỏ, tai ù, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác.
*) Pháp điều trị: Bổ tâm thận âm, dưỡng tâm an thần
*) Bài thuốc: Thiên Vương Bổ Tâm Đan gia giảm
- Sinh địa
12g
- Huyền sâm
12g
- Đan sâm
15g
- Thiên đông
12g
- Mạch đông
12g
- Đương qui
12g
- Bá tử nhân
12g
- Toan táo nhân
12g
- Ngọc trúc
12g
- Cát cánh
12g
- Ngũ vị tử
05g


*) Ý nghĩa bài thuốc:
Sinh địa, Huyền sâm, Thiên đông, Mạch đông dưỡng âm thanh nhiệt; Đương qui, Đan sâm bổ âm dưỡng huyets; Bá tử nhân, Toan táo nhân an thần; Đẳng sâm bổ tâm khí; Ngũ vị tử thu liễm khí tăng cường dưỡng tâm an thần.
2.3.2. Thể Tâm huyết ứ:
*) Chứng trạng: Người mệt mỏi, vô lực, hồi hộp nhịp loạn, suyễn thở, khó thở khi nằm, mặt tối, môi tím, đầu ngón tay xanh tím. Lưỡi ánh tím có ban ứ huyết. Mạch tế hoặc kết đại.
*) Pháp điều trị: Hoạt huyết hóa ứ
*) Bài thuốc: Đào Nhân Hồng Hoa tiễn gia giảm
- Đương qui
15g
- Đan sâm
15g
- Uất kim
10g
- Hồng hoa
06g
- Đào nhân
15g
- Long cốt
15g
- Mẫu lệ
15g
- Diên hồ sách
12g
- Quế chi
10g
- Xuyên khung
10g
- Cam thảo
05g


*) Ý nghĩa bài thuốc:
Đào nhân, Hồng hoa, Đan sâm, Đương qui là thần, hoạt huyết hóa ứ, Diên hồ sách, Xuyên khung, Uất kim là tá; Quế chi, Cam thảo thông dương khí; Long cốt, Mẫu lệ trọng trấn an thần. Nếu phù chân gia Phục linh, Trạch tả để lợi thủy. Nếu đờm trắng ho nhiều gia Đình lịch tử, Tang bạch bì để hóa đờm trục ẩm.
2.3.4. Thể Tỳ thận đều hư
*) Chứng trạng: Tim đập nhanh, phù thũng toàn thân, người gầy, ăn kém, đại tiện nhão, lưỡi rêu trắng, mạch trầm tế vô lực.
*) Pháp điều trị: Ôn bổ tỳ thận, thông dương lợi thủy.
*) Bài thuốc: "Chân vũ trang" gia giảm
- Phụ tử chế
06g
- Tang bạch bì
12g
- Bạch truật
15g
- Phục linh
20g
- Quế chi
10g
- Sinh khương
5 lát
- Trạch tả
15g
- Bạch thược
15g
- Sa tiền tử
15g


*) Ý nghĩa bài thuốc:
Phụ tử đại nhiệt ôn dương khu hàn; Quế chi thông dương khí; Sinh khương tán hàn; Bạch thược liễm âm hòa dinh; Bạch linh, Bạch truật kiện tỳ lợi thủy; Trạch tả, Sa tiền tử hành thủy; Tang bạch bì giáng khí bình suyễn. Nếu cổ chướng dùng phép ôn thận lợi thủy, có thể dùng Ngũ linh tán gia giảm. Nếu thủy âm tràn lên phế có thể dùng Đại táo tả phế thang gia Đình lịch tử.
2.4. Phòng bệnh:
- Chủ động chữa bệnh tại tim và nguyên nhân bất lợi đề phòng cảm nhiễm.
- Ăn thanh đạm, nhiều bữa, kiêng mỡ động vật, hạn chế ăn muối, hút thuốc, uống rượu, chè, cà phê.
- Chế độ lao động nghỉ ngơi hợp lý.

Theo "KẾT HỢP ĐÔNG - TÂY Y CHỮA MỘT SỐ BỆNH KHÓ"
GS. Bành Văn Khìu và cộng sự.